NÔNG  LÂM  SÚC  B̀NH  DƯƠNG 

                            một thời để nhớ

    Khoảng cuối tháng 8 năm 1969, tôi: Trần Tấn Miêng canh nông, Đặng Hữu Thức thủy lâm, Lê văn Thiên mục súc và Lại Ngọc Đức canh nông, bốn chúng tôi là giáo sinh vừa tốt nghiệp khoá I lớp Cao Đẳng Sư Phạm NLS tổ chức tại Nha Học Vụ NLS, số 3 đường Mạc Đỉnh Chi Sài G̣n. Chúng tôi tuy học cùng khoá nhưng lại có nguồn gốc khác nhau : tôi và anh Thức học khoá 1 ở trường trung học NLS Bảo Lộc, anh Thiên học khoá 8 trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc là khoá đàn anh của chúng tôi, anh Đức th́ học trung học NLS Cần Thơ. Chúng tôi nhận Sự Vụ Lệnh về trường trung hoc NLS B́nh Dương. Trong 4 đứa chúng tôi không ai là người tỉnh nầy v́ vậy buổi đầu về đây khá là bỡ ngỡ.

 

    Thầy Nguyễn văn Thi, người địa phương và cũng là đồng nghiệp của chúng tôi, nhờ sự gởi gắm từ một người bạn của bạn tôi, anh đă chờ sẵn khi chúng tôi vừa mới đến và như có sự chuẩn bị trước. Anh dẫn chung tôi đến nhà bà Bảy, một bà lăo chỉ sống một ḿnh trong một ngôi nhà thật khang trang, rộng răi, thoáng mát. Tiền nhà bà lấy rẻ đến mức tôi nghĩ đấy chỉ là chi phí bù vào tiền điện nước. Tuyệt hơn nữa là con gái lớn bà, D́ Hai có quán cơm ở gần cầu Bà Hai chỉ cách đó chừng 300m. Bà c̣n nói: chuyện cơm nước mấy thầy khỏi phải lo, để tôi bảo cháu ngoại tôi mỗi bữa xách lên cho. Vậy dó, ngày đầu tiên đến chợ Búng của chúng tôi , nơi đất khách quê người mà việc ăn ở của chúng tôi dược giải quyết một cách tốt đẹp không thể nào tốt đep hơn thế nữa. Đấy là mối ân t́nh đầu tiên mà người B́nh Dương đă trao cho chúng tôi.

 

    Chợ Búng khá trù phú, dân cư đông đúc, sinh hoạt nhộn nhịp, hàng quán không thiếu một thứ ǵ. Tuy là thời chiến tranh, nhưng có lẽ nhờ vị trí thuận lợi : nằm giữa Thị xă Thủ Dầu Một và huyện lị Lái Thiêu, cách đều mỗi đầu 5km, cách Sài G̣n 25km, nằm cạnh quốc lộ 13, có tuyến xe đ̣ Đồng Hiệp chạy từ chợ Thủ về bến ngă Bảy Sài G̣n ngang qua chợ Búng, cạnh đó lại có sông Búng, một nhánh sông nhỏ đổ ra sông Sài G̣n nên giao thông thuỷ bộ đều thuận tiện. Ngoài ra vùng đất băi bồi ven sông Sài G̣n đă tạo nên một vùng sản xuất trái cây mà nổi tiếng nhất là măng cụt, sầu riêng, mít tố nữ Lái Thiêu, chạy dài từ xă An Sơn, An Thạnh, Hưng Định, B́nh Nhâm..Danh tiếng một thời Người Đẹp B́nh Dương có lẽ  xuất xứ từ vùng nầy.

 

    Trường trung học NLS B́nh Dương nằm trên quốc lộ 13 (cũ), cách chợ Búng khoảng 1km về hướng Thủ Dầu Một, bên cạnh là trường trung học phổ thông Trịnh Hoài Đức, đây là trường trung học công lập đầu tiên và lớn nhất của tỉnh B́nh Dương thời bấy giờ. Bên phải là trường tiểu học Cộng Đồng Búng, một mô h́nh thí điểm cải cách giáo dục có mục đích tạo kỷ năng hoà nhập cộng đồng cho học sinh, và định hướng các kiến thức giáo dục gần với cuộc sống thực tế hơn. Trường trung học NLS B́nh Dương là sinh sau đẻ muộn nhất trong cái cụm trường học nầy. Có thể nói trường tiểu học Cộng Đồng Búng là tiền thân của trường Trung Học NLS Binh Dương và Người Thầy đầu tiên của ngành NLS là cô Hồ Thị Huê, huấn sự Nông nghiệp Cần Thơ được bổ về hướng dẫn các môn NLS cho học sinh Cộng Đồng, được mở liên thông lên các lớp đệ thất, đệ lục. Khi các học sinh lên lớp đệ ngũ, trường trung học NLS B́nh Dương được thành lập, vị Hiệu Trưởng đầu tiên là thầy Trần Hồng Đức, một thầy phổ thông dạy môn toán và Pháp văn được bổ về làm xử lư thường vụ hiệu trưởng.

 

    Chúng tôi đến tŕnh diện trường vào đầu niên học 69-70, tiếp nhận và phân công cho chúng tôi là thầy Hiệu Trưởng Huỳnh Kim Ngọc, kỹ sư mục súc khoá I , dáng người tầm thước, khuôn mặt chữ điền, cương nghị, giọng nói đầm ấm. Thật là lạ, trong lần đầu diện kiến ấy, tôi có cảm giác như gặp lại một người anh, tôi cảm thấy thật yên ḷng, một chút t́nh cảm ấm áp nhen nhúm trong tôi, h́nh như là tôi đang về lại với gia đ́nh, phải rồi cái gia đ́nh NLS ấy.

 

    Hồi ấy, trường chỉ mới có 2 lớp đệ tam : 1 canh nông 1 mục súc, 2 lớp đệ tứ và 2 lớp đệ ngũ. Cơ sở vật chất c̣n rất đơn sơ. Văn pḥng được che tạm ở phía trước nhà xưởng của trường Cộng Đồng giao lại, thường trực văn pḥng là hai cô thư kư: cô Thái thị Hồng, một cô gái vừa rời trường phổ thông trung học Trịnh Hoài Đức, trắng trẻo, dáng người rỏng rảnh, mắt to ngơ ngác, hiền lành, tính hay bẽn lẽn, cô là người địa phương. C̣n cô Vơ thị Huệ ( Vơ hay Nguyễn, cho tôi xin lỗi cô vậy, giờ tôi không nhớ nổi), cô người Củ Chi, dáng mảnh khảnh, da ngâm ngâm, mặt buồn, đặc biệt cô có cặp mắt sắc (sau nầy anh Trần Hồng Đức và tôi có biết cô là người của cách mạng, trong những năm ấy thỉnh thoảng trong trường xuất hiện truyền đơn Việt Cộng, chúng tôi đă im lặng. Quả vậy, sau ngày giải phóng, cô lập tức rời trường về quê hương Củ Chi tham gia chính quyền Cách Mạng, từ ấy đến nay tôi không hề gặp lại cô nữa).

    Các lớp đệ ngũ, đệ tứ được bố trí các pḥng che tạm trong khu nhà xưởng rất nóng nực, một số mượn pḥng ở khu B trường Cộng Đồng. Dăy nhà mới xây bao gồm một trệt một lầu chưa hoàn thiện, chỉ mới tạm đưa vào bố trí pḥng cho các lớp đệ tam. Khu thực hành Nông Trai có một kho nông cơ cũng của trường Cộng Đồng giao lại, một dăy chuồng heo gà, xây tạm bợ trên các khoảng trống trên khu g̣ mả mà vết tích của trận Mậu Thân c̣n để lại một vài mả mới trong trường.

 

    Ban giám hiệu, anh Ngọc, anh Bùi Sanh Báu, kiểm sự khoá I mục súc. Tổng Giám Canh, anh Trịnh Xuân Tài, Đại uư biệt phái, quyền Giám học được trang bị một chiếc jeep lùn. các thầy phổ thông gồm thầy Trần Hồng Đức, thầy Nguyễn Tấn Lộc( Lộc lắc). Các anh có gia đ́nh ở Sài G̣n nên đi về hàng ngày. Chuyên môn  về trước chúng tôi có Đặng thị Bắp mục súc, cô Bạch thị Vàng canh nông, các chị tốt nghiệp lớp Kiểm Sự khoá 8 và chúng tôi Thiên , Miêng, Đức, Thức. Ngoài ra c̣n có một số thầy cô dạy giờ phổ thông như thầy Nguyễn văn Thi, thầy Lê Trung Hưng, hiệu trưởng trường Cộng Đồng...dạy chuyên môn cho các lớp đệ tam có một vài thầy cô  từ Nha học vụ NLS về. Trường ít người nên chúng tôi làm quen nhau rất nhanh và mau thân thiện.

 

    Về phần tôi, nhà trường giao cho tôi một số giờ nông học các lớp đệ ngũ, đệ tứ và giờ thực hành nông trại lớp đệ tam canh nông. Việc nầy hơi khó đối với tôi và gây cho tôi một chút bối rối. Mới hôm qua tôi c̣n là học sinh, chơi và nói chuyện với bạn bè toàn mày tao, tác phong buông thả thoải mái. Khi tiếp nhận danh xưng Thầy của mọi người chung quanh tôi chưa quen, tôi khá cứng nhắc và đôi lúc có cảm giác ḿnh không phải là ḿnh nữa rồi. Năm ấy tôi vừa tṛn 24 tuổi, ở cái buổi giao thời của một cậu bé và người lớn nầy, đặc biệt với tôi là số phận đă chơi khăm. Tôi không tự tin lắm về ngoại h́nh của ḿnh, trong đám đông tôi thường ẩn khuất không h́nh tích. Giờ đây, công việc buộc tôi phải làm hạt nhân của các đám đông ! Hỡi ơi ! Trong thời gian ấy tôi thường hay lầm bầm một ḿnh : Tổ cha mày, cái nghề thầy giáo !

 

    Thời gian đă giúp tôi, tôi dần dà lấy lại quân b́nh và hoà nhập được vào cái tập thể có tên là trường trung học NLS B́nh Dương. Thực ra, mọi ông thầy đều phải từng là học tṛ, tôi đă có khá nhiều thời gian sống trong môi trường hoc đường ấy. Ai trong chúng ta đă trải qua thời niên thiếu dưới mái trường mà không có được những ấn tượng sâu sắc về một người thầy, người cô nào đó. Có thể là những ấn tượng không mấy đẹp và có những ấn tượng là của cải quư giá đă theo ta đến hết đời ḿnh, nhờ nó đă sưởi ấm ḷng ḿnh, đă dịu dàng an ủi những khi ta buồn chán. Với tôi tháng ngày ở trường NLS Bảo Lộc là những tháng ngày cho tôi nhiều điều để nhớ, trong khung cảnh của vùng cao nguyên êm ả, thanh b́nh, trong cái không khí lành lạnh của đất trời nơi ấy. Thầy tṛ chúng tôi đă quây quần bên nhau trong một không gian xinh đẹp, ấm cúng. Thầy Nguyễn văn Nhuệ, dáng người cao ráo, trắng trẻo, giọng hiền mà trầm ấm, cặp kiếng cận dày cộm làm tăng thêm vẻ trí thức cho dáng người vốn đă đẹp sẵn của thầy, thầy đă ân cần nói với chúng tôi; tiếng Anh bây giờ cần lắm các em ạ. Từ bây giờ mỗi tuần hai tối, khi các em lên lớp etude thầy sẽ dạy thêm cho. Tôi đă theo thầy được vài buổi rồi v́ lười nên bỏ luôn. Bố già Nguyễn Viết Trực với những giờ dạy là các buổi chép bài mệt nghỉ. Mà đúng vậy, buổi học 3 giờ th́ thầy dạy tối đa là một giờ rưởi, xem chừng chúng tôi đă mỏi tay c̣n thầy th́ cũng thắm mệt. Thầy nói : hôm nay giời mưa thầy cho các em nghỉ sớm, hôm khác : hôm nay giời nắng thầy cho các em nghỉ sớm. Sau cùng, khi học giờ của thầy, khi cảm thấy giọng đọc bài của thầy thắm mệt, tất cả lớp canh nông chúng tôi đều lầm bầm trong bụng: hôm nay bất kể trời mưa hay nắng, chúng em đều nghỉ sớm. Ấy vậy mà cả lớp chúng tôi rất khoái thầy và thầy đă đươc chúng tôi yêu và nhớ đến thật nhiều. C̣n nữa, những h́nh ảnh tái hiện trong tôi như một cuộn phim chạy chậm, thầy Châu Kim Lang, tác phong nghiêm túc mà ánh mắt thật nhân hậu, thầy Bành Ngọc Quí ưa chuyện chính trị, thầy Nguyễn Thanh Vân, xuề xoà, lăng tử nhưng lại có tấm ḷng trung thực, công bằng và vô cùng nhân hậu, thầy vốn trầm lặng, ít nói nhưng thương âm thầm giúp các học sinh có hoàn cảnh khó khăn,,,,,

 

   Cho tôi xin lỗi, tôi đă lang bang rồi....ư tôi muốn nói là, tuy khung cảnh có khác nhau nhưng những sinh hoạt của các trường NLS th́ ở đâu cũng na ná như nhau và điều nầy giúp tôi dễ thích nghi hơn mặc dù là bây giờ tôi ở cương vị khác. Năm ấy trường c̣n đang tiếp tục xây dựng nên phần lớn nội dung thực hành nông trại biến thành những buổi lao động dọn dẹp những bừa bải của công trường xây dựng, chuyện nầy th́ quá dễ cho tôi ( nhưng lại quá khổ cho các em học sinh lớp lớn, nhất là đám con trai). Một lần khi công việc đă giảm nhiều, phía sau trường c̣n một mảnh ruộng nhỏ, tôi bảo học sinh lớp đệ tam canh nông trồng lúa. Khi lúa đă được cấy xong th́ trời lại hạn mà ruộng là ruộng g̣, mặt đất khô queo, tôi sợ lúa chết nên bảo các em gánh nước tưới ruộng cứu lúa. Nh́n các em trai gái lũ lượt gánh nước từ khu B sang đám ruộng ở khu A, các em mồ hôi đẫm loang lổ trên lưng áo, dáng đi khổ sở v́ đâu có quen gánh, tôi thấy thật thương. Bực quá các em gái chỉ lén lườm nguưt, các em trai th́ nhẫn nhục cam chịu. Tôi cố nín để khỏi bật cười. Sao các em học sinh NLS B́nh Dương lại ngoan hiền đến thế, hăy tha lỗi cho tôi. Tôi nhớ hồi c̣n là học sinh ở trường NLS Bảo Lộc, trường tôi có đến 10 mẫu cafe, 2 mẫu cam, 1 mẫu quưt sưu tập giống và một khu đất trống hơn 2 mẫu để chúng tôi thực hành, lúc đó nhà trương bắt chúng tôi vác sạc la (một loại như cuốc nhỏ dùng để dẩy cỏ ở cao nguyên) đi dẩy cỏ cafe, chúng tôi đă phản đối ỏm tỏi và chỉ làm một lần. Sau đó trường không bắt chúng tôi làm nữa.

 

   B́nh Dương đất chật người đông, cả khuôn viên trường chỉ vài ngàn mét vuông không đủ chổ để xây dựng pḥng học, khu nông trại thực tế là cái g̣ mả chỉ cất tạm vài ngăn chuồng, nuôi vài con heo, gà th́ lấy đâu ra đất để trồng rau. Học tṛ trường trâu ḅ (ấy cái tên nầy là do các tiểu thư, công tử Trịnh Hoài Đức đă âu yếm đặt cho) mà không biết trồng một cọng rau, nuôi được một con gà con vịt th́ c̣n ra cái thể thống ǵ nữa chớ. Thế là vật cùng tắc biến, trong cái khó ló cái khôn. Dự án thực hành nông trại tại gia ra đời (hồi tôi học ở Bảo Lộc đâu có cái vụ nầy).

 

   Có lẽ đây là đặc sản của trường NLS B́nh Dương, tôi không biết hồi ấy trong hệ thống NLS toàn miền nam áp dụng việc nầy ra sao ? Riêng trường NLS B́nh Dương th́ đây là giải pháp tối ưu để học tṛ NLS đích thị là học tṛ NLS. Tôi chia các em ra từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm 5-7 em, nhà ở gần nhau, trong số đó nhà em nào c̣n đất trống th́ mượn của cha mẹ một ít rồi lập Dự Án trồng rau, rau ǵ cũng được. Cái dự án nầy có mục đích tập cho các em làm người lớn, biết cách tính toán làm ăn. Nghỉ lại thật tức cười, thầy th́ cũng chưa phải là người lớn, c̣n các em hẳn nhiên là con nít rồi mà cùng nhau tập tính toán làm ăn như một nông dân tiến bộ. Kết quả là, một tuần hai buổi thực hành nông trại tại gia biến thành những buổi giao lưu. Do t́nh h́nh an ninh, các em thường chọn những mảnh đất trống trong vườn măng ở gần đường, vườn măng th́ mát mẻ, trong số các em, có nhiều em nhà ở Sài G̣n, có em ở phố chợ, đươc một tuần 2 buổi tập hợp nhau trong vườn vừa làm vừa đùa giỡn th́ c̣n ǵ bằng. Phải chăng nhờ vậy mà các em giảm bớt căng thẳng trong các giờ học trên lớp v́ chương tŕnh học lí thuyết của các em là rất nặng, các em phải học toàn chương tŕnh phổ thông ban A thêm các môn chuyên môn NLS mà môn nào cũng nặng (hệ số điểm có tính quyết định cho việc lên lớp).

 

    Buổi đầu đi kiểm tra thực hành nông trại tại gia của các em, các nhóm phải cử người ra đón. Nh́n những khuôn mặt hớn hở của các em khi tôi đến, cái nắng của đất trời B́nh Dương gần như chẳng c̣n si nhê ǵ nữa, các em chọn cho tôi một gốc măng mát nhứt để ngồi nghỉ rồi trịnh trọng mang đến cho tôi một li coca mát rượi và các em xúm xít quanh tôi để tâng công. Sự xúc động trong tôi làm nhoà đi h́nh ảnh các em, tôi không c̣n phân biệt được tôi là thầy của các em hay là tôi của những tháng ngày đi học. Trong một buổi tôi phải đi thăm nhiều nhóm, có kinh nghiệm ở nhóm đầu, chỉ cần liếc nhẹ là tôi bắt gặp một chai coca treo lủng lẳng ở một cành cây gần đó. Tôi đă đùa các em: Ê, cái kiểu hối lộ nầy không ăn thua rồi v́ nhóm nào cũng làm y chan như nhau. Sau nầy không được làm vậy nữa nghe. Các em chỉ cười giả lả.

 

    Càng về sau, các buổi kiểm tra thực hành nông trại tại gia càng thân mật, ấm cúng và phong phú hơn. Có bữa là khoai ḿ trộn dừa nạo, cuốn bánh tráng, có bữa thầy tṛ b́ bỏm tát mương kiếm cá nướng, mỗi lần thu hoạch cải bẹ xanh th́ y như rằng có chầu đổ bánh xèo... Vào mùa trái cây, thôi th́ chôm chôm, mít tố nữ, măng cụt, sầu riêng...dưới tán vườn măng mát rười rượi thầy tṛ nói cười hỉ hả vui đùa với những trái cây vừa hái ngọt lịm. Thực hành nông trại tại gia, phải rồi, tại gia nghĩa là ở nhà . Các em học sinh NLS B́nh Dương đa phần là người B́nh Dương, chỉ có một số ít từ nơi khác đến. V́ thế việc đi thăm khu thực hành của học sinh đă giúp tôi lần hồi thâm nhập vào các gia đinh người B́nh Dương lúc nào tôi không nhớ nữa. Một cách thật tư nhiên tôi trở thành thân quen với khá nhiều gia đinh các em học sinh, không những chỉ ở An Sơn, An Thạnh, Hưng Định, B́nh Nhâm...mà c̣n tận Bến Thế, Mỹ Hảo...

 

    Phải chăng loại h́nh giáo dục không giống ai của hệ thống giáo dục NLS thời ấy đă tạo nên mối quan hệ đặc thù giữa thầy và tṛ NLS B́nh Dương, so với trường phổ thông trung học Trịnh Hoài Đức bên cạnh, quan hệ thầy tṛ NLS có vẻ cởi mở, thân mật và gần gủi hơn nhiều, không phải chỉ có học sinh mà gia đ́nh của các em cũng thân mật hơn. Tôi c̣n nhớ, một lần băng thầy giáo chúng tôi được mời đi đám giỗ ở nhà một em học sinh. Khi về trời đổ mưa, anh Trần Hồng Đức chẳng may bị một con chó băng ngang đường làm té xe. Anh phải nằm bệnh viện B́nh Dương 3 ngày, các em học sinh : Bồ văn Khoa, Lê Ngọc Rạng, Đặng Hữu Lợi, Lê Hoàng Điệp,,,đă luân phiên nhau vào bệnh viện chăm sóc. Đặc biệt là em Bồ văn Khoa, nhà ở tận Tân Khánh cũng về nhà xin ba má vào bệnh viện ngủ lại để chăm sóc thầy...các em của tôi, sao mà các em đáng yêu dến thế ! Khi viết những ḍng nầy, sự xúc động làm nhoè mắt tôi, tôi phải dừng lại một lúc thật lâu mới dằn lại được.

 

    C̣n biết bao nhiêu kỷ niệm nữa với các em học sinh, với bạn bè đồng nghiệp của tôi dưới mái trường NLS B́nh Dương mà giờ đây chúng là tài sản của riêng tôi. Những ngày tháng ấy, sao mà ấm áp t́nh người.

 

    Trường trung học NLS B́nh Dương sinh sau đẻ muộn nhưng lại lớn nhanh như thổi, thời gian ấy, chiến tranh càng khốc liệt  th́ hệ thống trường lại càng nở rộ, cả công lẫn tư có lẽ nhờ đươc ưu tiên thêm  1 tuổi trong qui chế quân dịch lúc đó. Mùa xuân năm 72.trong tập san mừng Tết và để kỷ niệm khoá đầu tiên của ông bầu Trương Công Chánh rời trường. Anh Trần Hồng Đức có viết một bài tặng các em tựa là Ông Lái Đ̣, lúc bấy giờ anh Phạm văn Nê là cố vấn văn nghệ có đưa tôi đọc nhờ góp ư, nội dung bài của anh Đức là ví nghề thầy giáo như nghề đưa đ̣, nhưng trong phần kết có gợi ư: Thầy đă đưa các em một quăng đường, giờ đây trước mặt các em là hai ngả đường mà các em phải chọn lựa, hăy thận trọng. Lúc bấy giờ tôi có viết một đoản văn: Cho tôi đóm lửa. Tôi hiểu ư anh Đức, nhưng tôi c̣n muốn nói với các em: Không đâu các em, hăy c̣n một con đường thứ ba nữa các em ạ. Đó là con đường ấm áp t́nh người và chúng ta phải t́m con đường dẫn đến sự sống c̣n. Như tôi vậy, lúc tôi học gần xong lớp kiểm sự cao su th́ Nha mới mở lớp Sư Phạm NLS, lúc ấy mẹ tôi nói làm thầy giáo ít đi lính hơn con ạ và tôi đă quay về học lại, nhờ thế tôi đă né khỏi chiến tranh.

 

    Mệnh số trường trung học NLS B́nh Dương thật non yểu 67-75, thọ 8 tuổi. Sau 75 trường đổi thành trường trung học Lâm Nghiệp trung ương 4, sau biến thành trường bổ túc văn hoá Lâm Nghiệp trung ương II. Tôi c̣n tiếp tục đến năm 80 th́ nghỉ. Trên thực tế th́ trường trung học NLS B́nh Dương đă bị xoá sổ. Nhưng đối với gia đ́nh chúng tôi th́ nó vẫn c̣n sống măi, không thể chết được. Sau khi nghỉ việc, tôi trở thành lỡ thầy lỡ thợ, vợ tôi củng vậy, hai chúng tôi  tứ cố vô thân, số phận đă buộc chặt hai chúng tôi ở cái xứ Búng nầy. Chúng tôi lăn lóc làm đủ thứ nghề để sống c̣n và nuôi con. Trong những năm tháng ấy đă cho tôi nhiều điều vô cùng quư giá. Thật ra ở đây tôi c̣n có gia đ́nh, không một Đại Gia Đ́nh vô cùng thân thiết. Người bạn, không đứa em gái đầu tiên đă t́m đến, em Thái thị Lành. Ba tháng sau ngày giải phóng, chúng tôi sinh đứa con đầu, gia đ́nh vô cùng chật vật, trong bộ dạng xơ xác của một cô gái buôn lậu đường dài, em đi buôn lậu than từ Dầu Tiếng về Sài G̣n đă ghé Búng thăm chúng tôi, em đă tặng vợ tôi 10 đồng (tiền mới đổi) với một bao than (lúc ấy vợ tôi mới sinh c̣n trong tháng), tôi không có nhà v́ c̣n phải dẫn học tṛ Lâm Nghiệp đi đốn củi măi tận La Ngà, về nghe vợ kể lại, ḷng tôi thật bồi hồi. Em Nguyễn Thanh B́nh, Trần văn Đa, Nguyễn văn Thơ đă dẫn tôi đi t́m nơi đặt làm máy cán da b́, rồi đứa th́ hướng dẩn tôi làm, đứa th́ lo tiêu thụ...đến chừng cực quá tôi làm không nổi, tụi nó lại lo việc sang lại máy móc để giữ cho tôi một ít vốn. Rồi chúng tôi cùng nhau đi cứu giúp Nguyễn văn Đông, khi ấy rất khổ. Đa th́ t́m chô4 gởi đứa con trai lớn của Đông học nghề thợ máy, B́nh th́ mua cho xe bánh ḿ, Thơ giúp vốn...chúng tôi đă đùm đậu nhau để sống...tôi không tài nào nhớ nổi và kể hết được. Trần văn Quen, Trương Công Chánh, Bồ văn Khoa , Nguyễn văn Bá, Nguyễn văn B́nh...tất cả các em khác nữa...bất kể ở đâu mà tôi gặp, tôi đều nhận được sự ấm áp của t́nh thân

... đừng xa anh đêm nay khi má ba  anh đang ngủ say ...

Nguyễn Thanh Nhàn & Trần Tấn Miêng

 

   Giờ th́ các con tôi đă lớn, tôi c̣n có cháu nữa. Tôi thường nói với chúng: Ba mẹ không phải người B́nh Dương, nhưng đất và trời ở B́nh Dương đă nâng đỡ và che chở chúng ta, người B́nh Dương đă bảo bọc chúng ta, mái trường NLS B́nh Dương đă sinh ra cho ba những người anh em, chính là các cô các chú các con. Các con đă chôn nhau cắt rốn ở đây. Các con là người B́nh Dương rồi.

 
    Cám ơn các em, những người con của Đại Gia Đ́nh NLS B́nh Dương.
 
 
                                                                                                    Trần Tấn Miêng